Y học - Sức khỏe
Triệt sản theo thuyết ưu sinh: Tiến bộ y học hay phi đạo đức?

 Trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây nhắc nhiều đến thuyết ưu sinh, học thuyết mà người ta cho rằng có thể dùng nó để cải tạo giống nòi bằng triệt sản, cải tạo hệ gen cho thế hệ tương lai nhưng thực tế đây là một học thuyết vi phạm nhân quyền, làm cho nhiều người bị triệt sản “oan” thậm chí dẫn đến nguy cơ diệt chủng.

Thuyết ưu sinh là gì?
 
Thuyết ưu sinh (eugenics) là học thuyết nổi tiếng những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, được khởi xướng bởi nhà nhân chủng học người Anh Francis Golton vào năm 1883. Thuyết này còn được nhiều chính khách, nguyên thủ quốc gia ủng hộ, trong đó có cả Hitler và đã được phát xít Đức dùng làm công cụ để “rửa sạch giống nòi” tiêu diệt những dân tộc được cho là hạ đẳng.
 
Thực chất của học thuyết này là triệt sản ép buộc nhằm loại bỏ các cá thể khuyết tật như người bị tâm thần, người mù, người điếc, phụ nữ có quan hệ tình dục bừa bãi, người đồng tính hoặc các bộ tộc bị xếp vào giống người “thoái hóa” hoặc “không đủ tiêu chuẩn” để tồn tại. Ngày nay, việc áp dụng thuyết ưu sinh là xâm phạm đời sống riêng tư, xâm phạm nhân quyền và nhiều hệ lụy khác, thậm chí còn bị xếp vào tội diệt chủng.
 
Triệt sản cưỡng bức, vết nhơ thuyết ưu sinh của người Mỹ
 
Thời kỳ triệt sản theo thuyết ưu sinh “đình đám” nhất ở Mỹ là giai đoạn 1907 và 1963, khi 64.000 người bị ép buộc triệt sản theo luật ưu sinh. Theo tài liệu mật để lại cho biết, California là nơi có tỉ lệ triệt sản cao nhất, với khoảng 20.000 ca, chiếm 1/3 trong tổng ca triệt sản ở Mỹ từ năm 1909 tới thập niên 1960. Ý tưởng tạo ra thiên tài và tài năng từ ưu sinh đã được quảng cáo khá rùm beng và được William Graham Sumner, người sáng lập Hiệp hội Xã hội học Mỹ ủng hộ. Sumner cho rằng, nếu Chính phủ không can thiệp thì những người khiếm khuyết (tâm thần, tàn tật..) và nhóm tội phạm sẽ sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều, tạo ra gánh nặng cho xã hội cần phải loại bỏ bằng thuyết ưu sinh.
 
Với việc thông qua Đạo luật Nhập cư năm 1924, các nhà ưu sinh học lần đầu tiên đóng vai trò là cố vấn trong các cuộc thảo luận của Quốc hội về nguy cơ bị ô nhiễm bởi “nguồn gen hạ đẳng” do dân nhập cư từ Đông và Nam Âu. Điều luật này đã làm giảm 15% dân di cư so với các năm trước. Bộ luật mới này lấy cảm hứng từ niềm tin cho rằng vốn gen thượng đẳng của người Mỹ da trắng là thuộc chủng Nordic nên được những người xưa nay vốn kỳ thị dân tộc lại càng ủng hộ. Đầu thế kỷ 20, Mỹ và Canada là “cái rốn” nhập cư, nhất là từ Đông và Nam Âu nên Canada và Mỹ đã thông qua các điều luật phân loại thứ bậc quốc tịch. Theo đó, những người được ưu tiên nhập tịch là nhóm người Anglo-Saxon và người Nordic, trong khi đó một số dân tộc khác lại bị “soi” kỹ hơn, thậm chí còn bị cấm nhập cư vào Mỹ.
 
Thuyết ưu sinh và muôn vàn hệ lụy
 
Ngoài việc dùng thuyết ưu sinh để phục vụ cho mục đích chính trị, cho ra đời nhiều đạo luật gây phân biệt chủng tộc, làm tăng sự hận thù giữa các quốc gia, việc áp dụng thuyết ưu sinh không đúng mục đích còn tạo ra vô vàn hệ lụy khác. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, ý tưởng thanh trừng chủng tộc của Đức Quốc xã đã bị loài người lên án công khai vì nó mang tính phi đạo đức, đi ngược lại các tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền con người.
 
Việc thực hiện những mặt tiêu cực của thuyết ưu sinh ngày nay bị liệt vào tội diệt chủng quốc tế, theo Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng. Trong thực tế có không ít người khuyết tật hoặc sức khỏe không tốt  mà vẫn thành công trong cuộc sống, trở thành thiên tài như nhạc sĩ Schuman, nhạc sĩ Franciszek Chopin, họa sĩ thiên tài Van Gogh, Newton, Gogol, Pascal, Maupassant... Hoặc ngược lại, trong dự án tạo ra tộc người thượng đẳng do Hitler thực hiện hồi Chiến tranh thế giới thứ II lại đi ngược ý muốn chủ quan của con người. Theo đó phần lớn sản phẩm của trại giống “người thượng đẳng” của phát xít Đức, gồm trên 50.000 trẻ được sinh ra từ các ông bố bà mẹ hoàn hảo lại có IQ dưới mức trung bình.
 
 Điều này chứng tỏ không phải gen di truyền quyết định mà nó còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như môi trường nuôi dưỡng, tính năng ưu việt của quá trình chọn lọc tự nhiên từ thế hệ này đến thế hệ kia, yếu tố tiến hóa và cả những điều mà chính con người đến nay vẫn chưa khám phá hết và dĩ nhiên những người đang nuôi ý chí nhân bản con người và ủng hộ thuyết ưu sinh cũng cần phải suy tính đến những tình huống dở cười dở khóc, kiểu như cha thiên tài con cái nhân bản lại câm điếc hoặc lão hóa sớm.
Theo SKĐS